Chuyện viết ở bệnh viện

Chuyện viết ở bệnh viện
Tháng năm, bầu trời miền Trung cao xanh vời vợi. Phía đằng Đông, nơi chân trời xa, mây trắng lô xô những dáng người. Trên đồng làng tôi, lúa chín một màu vàng rực. Cánh đồng thẳng cánh cò bay, sóng lúa dập dờn trên biển vàng óng ả. Ngoài đồng Chăm, lác đác một vài nhà đã bắt đầu vào vụ gặt.
Kìa! Ai lại tuốt lúa giữa đường giao thông thế nhỉ. Tôi cho xe đi chậm lại, thong thả kéo còi. Bỗng một người đội cái nón cời, mặt mũi trùm khăn kín mít, từ trong máy lao ra. Chiếc xe tôi lồng lên, ngã kềnh xuống đống rơm. Tôi bị cày mặt xuống đường, chân trái đau nhói, không đứng dậy được. Có tiếng ai đó “gãy chân rồi”. Họ gọi tắc xi chở tôi vào bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế.
Trên đường bê tông, tiếng máy tuốt lúa vẫn cứ nổ đều đều…
*
Giường cạnh tôi, một ông già, mái tóc bạc phơ, khuôn mặt phờ phạc, hai má ông hõm xuống hốc hác. Người ông lép kẹp, mỏng dính như chiếc lá được dán xuống tấm ra trải giường. Hai thanh i – nốc kẹp vào ống chân trái của ông, nối với sợi dây ròng rọc vắt qua thành giường, đeo ba quả cân để kéo giãn ống chân ra.
Người đến thăm ông rất đông. Họ gọi ông là ông Mười Hương. Những ngày đầu, còn rất mệt nên tôi chỉ nằm nghe người khác nói chuyện. Họ hỏi nhau về bệnh tình của người thân, họ nhờ nhau xuống căn tin mua cơm, cháo hay một vài thứ đồ dùng cần thiết. Mãi đến ngày thứ năm, chúng tôi mới bắt đầu nói chuyện. Ông là một sĩ quan quân đội về hưu. Quê ông ở Hà Tĩnh, ông vào Huế công tác rồi lấy vợ và ở lại. Ông đang đứng trên chiếc ghế con quét dọn bàn thờ thì ghế đổ, gãy chân.
Câu chuyện về cuộc đời của ông làm tôi ám ảnh mãi.
Năm 1955, ông theo dòng giáo dân di cư vào Nam để theo dõi một tên mật vụ nguy hiểm tên là Phan Quang Đông. Trong kháng chiến, Đông là một cán bộ trong ngành công an của Việt Minh. Đông bị kỷ luật, nhưng tổ chức chưa kịp kiểm điểm thì hắn đã cao chạy, xa bay vào miền Nam theo chân Pháp.
Vào Huế, ông đạp xe xích lô chở khách. Khách ông chủ yếu là các con chiên đi lễ ở nhà thờ Phủ Cam. Ông nhận có họ hàng xa với Đông ở ngoài Hà Tĩnh. Ông biết, sau ba năm “thử thách” lòng trung thành, Đông đã được Ngô Đình Cẩn giao cho phụ trách “Văn phòng cơ quan nghiên cứu chính trị và phản gián” miền Trung.
Cuối tháng 4 năm 1956, khi tên lính Pháp cuối cùng rút khỏi miền Nam, Việt Nam, Cẩn được Tổng thống Diệm phong chức “Cố vấn chỉ đạo các đoàn thể cách mạng trong nước và hải ngoại”. Đông quy thuận dưới trướng Ngô Đình Cẩn và được phong đại úy an ninh. Dựa vào thế Ngô Đình Cẩn, cơ quan này tung hoành khắp dải đất Cao Nguyên Trung Phần. Tất cả nhân sự của cơ quan trá hình này đều là sĩ quan quân đội, hoặc là nhân viên nha công an, ty cảnh sát quốc gia, của các tỉnh Trung phần. Đối với người dân miền Trung từ sông Hiền Lương đến Rừng Lá Bình Thuận, Cẩn có quyền sinh, quyền sát. Ai đã rơi vào tay Cẩn, nếu không chịu “chuyển hướng” thì chỉ có chết vứt xác ngoài đồi thông hay bị chôn sống. Những tù nhân “cộng sản đặc biệt”, Cẩn bắt giam ở “Chín Hầm”. “Chín Hầm” là những kho vũ khí của Pháp được xây dựng trong một quả đồi. Cẩn bí mật chữa lại thành “địa ngục trần gian”. Những xà lim nhốt tù chính trị chỉ nhỉnh hơn một chiếc quan tài. Mọi hoạt động ăn ở, vệ sinh đều nằm trong chiếc “quan tài” ấy. Mùa hè, nồng nặc mùi hôi thối, họ phải ngồi trên đống phân mà ăn, ngủ. Nhà giam đầy muỗi và chuột bọ. Mùa mưa, nước dột từ nóc hầm xuống ngập ngụa, tù nhân phải đứng suốt đêm trong nước phân. Cẩn nói với đám thuộc hạ: “Mấy thằng cộng sản đưa vô chín hầm mà còn ngoan cố, cậu cho bây thẳng tay đập chết. Còn mấy thằng thương gia, nhà giàu, đập không được chết. Bây đập mần răng mà tụi nớ chịu nộp tiền vô cho chính phủ mới thả ra. Để tụi nớ về nhà, vợ con chăm sóc, thuốc thang vài tháng là chết. Đập như rứa mới hay, mới tài”.
Hồi đó ông Mười thường chở Ma Duyệt, một tôi tớ trung thành lâu năm của gia đình ông Ngô Đình Khả, đi nhà thờ. Ông không bao giờ lấy tiền công chở Ma Duyệt, tỉnh thoảng ông còn biếu cho ông ta một vài món quà gì đó để lấy lòng. Ông nói với Duyệt, ông là người họ hàng thân tín của Phan Quang Đông ở ngoài Hà Tĩnh. Duyệt tin ngay. Duyệt là người chuyên bổ cau, têm trầu, nấu nước chè xanh, chăm lo quét tước bàn thờ cho Cẩn trong ngày kỵ giỗ. Duyệt còn lo cơm nước cho Diệm mỗi khi ra Huế.
Một hôm Ma Duyệt đem chuyện đời tư “ông Cậu ” ra kể với ông Mười. Cẩn đã ăn nằm với người chị con bà dì ruột tên là Nguyễn Thị Sách, làm quản gia cho gia đình “Cậu Út”. Chồng mụ có tên là Luyến nên bà con thường gọi là mụ Luyến. Mụ có với ông Luyến ba đứa con, còn ba đứa nữa là con của Cẩn. Ba đứa giống Cẩn như tạc. Mụ Luyến cũng có quyền sinh, quyền sát chẳng kém gì “Cậu Út”. Mọi quan chức, tướng tá đóng ở miền Trung, các tướng lĩnh trong Sài Gòn ra phải quỳ lạy, nịnh bợ mụ như với Ngô Đình Cẩn vậy. Có lần, một người lính hầu tên là Nguyễn Văn Tiếng, quạt mát cho hai người ngủ trưa. Mỏi tay quá anh ta làm rơi chiếc quạt đánh cạch xuống nền nhà, thế là mụ Luyến vùng dậy, lấy đầu nhọn của chiếc guốc đi dưới chân đập vào đầu Tiếng, máu ra lênh láng.
Thằng Thuyết, con trai mụ với Cẩn cũng ác ôn không kém. Họ đạo Phủ Cam người ta truyền nhau: “Mụ Luyến, thằng Thuyết một lũ ác ôn/ Giết chết không hồn ô hô thằng Cẩn/ Ngày tàn đến nơi không đất mà chôn”.
Không biết chuyện thực hư thế nào, nhưng ông thấy đây là một dịp tốt để phơi bày bản chất mọi rợ của Ngô Đình Cẩn với bàn dân thiên hạ. Ông khuyên Ma Duyệt hãy kể chuyện đó với cha xứ Phủ Cam. Chuyện loang ra. Ngô Đình Cẩn nổi cơn tam bành, triệu tập ngay một cuộc họp tại nhà riêng, gồm có các ngài: Tỉnh trưởng Thừa Thiên, thẩm phán, quan tòa, cảnh sát… Hai vành tai Cẩn đỏ gay, mấy đường gân cổ nổi lên, giật liên hồi. Cẩn hầm hầm nhổ toẹt miếng bã trầu xuống nền gạch hoa: “Các ngài thấy Thằng Ma Duyệt có đáng chết không. Một con chó phản chủ. Tội thằng này là phải xử tử”.
Một vị thẩm phán khúm núm: “Thưa Cậu, biết khép tội hắn vào khung hình phạt nào được ạ”.
Cẩn nghiến răng: “Tội nào mà chẳng được. Pháp luật trong tay mình. Mình đẻ ra pháp luật. Mình cho sống thì hắn sống, mình muốn hắn chết thì hắn phải chết. Mình có thể chuyển hắn từ loại làm gián điệp cho Pháp sang âm mưu đảo chính chế độ, hoặc cộng sản nằm vùng. Phải tùng xẻo từng miếng thịt, phải róc từng khúc xương, xé xác hắn ra cho chó ăn, phải cho hắn chết từ từ trong đau đớn”. Dù không được học hành nhiều, nhưng nhờ lắm mánh khóe, đôi khi thủ đoạn theo kiểu mấy anh lí trưởng thừa hưởng hoa lợi từ ruộng nhà của mấy người đàn bà góa, Cẩn biết cai trị kẻ dưới bằng mồm và roi vọt.
Tỉnh trưởng Thừa Thiên rụt rè nói: “Thưa Cậu, mấy ngày nay dân chúng trong tỉnh Thừa Thiên xôn xao lắm, họ bàn tán chuyện thằng Ma Duyệt với ông Cậu ạ. Họ đặt vè chửi ông Cậu chẳng ra gì. Bây giờ mà mình khép tội hắn vào hình phạt xử tử thì họ nói pháp luật không minh, gia đình trị, họ không còn tin tưởng vào chế độ ạ”.
Cẩn khoát tay: “Thôi! Được rồi. Chuyện ni tau giao cho thằng Đông. Mi mần răng đó được thì mần. Phải xử tử thằng ni thiệt gọn cho cậu”.
*
Một chiều cuối thu. Bầu trời Huế xám xịt, những cơn mưa dầm nối đuôi nhau sụt sùi. Phan Quang Đông đưa đến một chiếc bao bố. Đông bảo ông tống Ma Duyệt vào trong chiếc bao. Hắn bảo ông buộc túm miệng bao lại rồi chở ra cầu sắt Dã Viên (cầu Bạch Hổ). Ông chở cái bì đến cầu thì trời cũng vừa sẫm tối. Một lúc sau chiếc xe zeep chở bọn mật vụ Phan Quang Đông tới. Đông bước xuống xe, hắn lấy chân đá vào chiếc bì, kiểm tra lại nút buộc xem đã chặt chưa: “Ma Duyệt! Mi đã biết tội mi chưa? Hôm ni tụi tau đưa mi về với Hà Bá”.
Nằm trong bao, Ma Duyệt khóc hu hu, Duyệt cứ một mực kêu oan. Duyệt xin được tha mạng. Đông dằn giọng cười gằn: «Không được. Răng mi lại ngu rứa. Mi đi chọc tức ông Cậu. Muốn xin, cứ xuống gặp Hà Bá mà xin». Nói rồi Đông bảo ông: « Anh Mười là người có họ với tôi. Tôi sẽ kết nạp anh vào Đảng Cần lao nhân vị. Vào đây anh phải cùng tôi tiêu diệt cộng sản một cách triệt để. Anh ném thằng này xuống sông cho tôi ». Ông lôi Ma Duyệt đến bên mép cầu rồi co chân đạp một cái, Ma Duyệt rơi tỏm xuống giữa dòng sông Hương.
*
Những năm bạo chúa Ngô Đình Cẩn cai trị Cao Nguyên Trung phần, nhiều nhân sĩ, trí thức, thương gia, nhà thầu… bí mật chạy vào miền Nam lánh nạn. Thấy thế, Cẩn lập thêm một ban công tác đặc biệt nữa vừa lùng bắt những người Cộng sản, vừa bắt những người chạy trốn. Dương Văn Hiếu được Cẩn giao cho phụ trách « Đoàn công tác đặc biệt miền Trung » vào Sài Gòn.
Hiếu là người Hà Nam, nguyên ủy viên Ban tư pháp khu Ba bỏ kháng chiến về hàng giặc. Hiếu được Cẩn giao cho làm Trưởng ty công an Thừa Thiên nhưng vẫn bị Cẩn cho người giám sát, theo dõi. Ông Mười được Đông tuyển chọn vào làm việc đó. Hiếu ra lệnh cho bọn đàn em tìm cách thân thiện với nhân viên mật vụ chính phủ trung ương Sài Gòn để khai thác cho kì được những hồ sơ mà bọn họ điều tra bấy lâu nay. Ông Mười là người tích cực nhất tìm hiểu xem những tên nào phụ trách những hồ sơ bí mật này. Một tên chiêu hồi trong đám mật vụ của Bác sĩ Trần Kim Tuyến ở Sài Gòn đã nhận ra ông. Hắn nghi ông là người của Việt Minh cài vào. Ông nói với Tuyến: « Tôi cũng như anh ta thôi. Không tin, ngài cứ hỏi thẳng người hầu hạ, cơm nước cho cụ Ngô thì biết». Ông đòi gặp cho được người nấu cơm cho Tổng thống Ngô Đình Diệm. Người ấy chẳng phải ai xa lạ – Ma Duyệt.
Trước lúc đẩy xuống sông, ông Mười đã bí mật trao cho Ma Duyệt một con dao sắc lận vào cạp quần trước lúc «về với Hà Bá ». Duyệt rạch bì lặn sâu xuống, bơi ra xa một quãng rồi vào bờ. Duyệt tìm đường vô Sài Gòn bẩm báo với Ngô Đình Diệm. Diệm ra lệnh giữ Ma Duyệt lại trong dinh Gia Long để hầu hạ. Chính nhờ sự xác nhận của Ma Duyệt mà ông Mười đã thoát chết. Ông tiếp tục hoạt động cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Tôi hỏi: « Khi gia đình họ Ngô bị lật đổ, ông Ma Duyệt có bị quân đảo chính làm gì không ».
Ông cười : « Họ bắt một người như ông Ma Duyệt làm gì. Sau đảo chính, ông về sống ở xứ đạo Phủ Cam, cách nhà Ngô Đình Cẩn chỉ vài trăm mét ».
« Sau giải phóng bác có gặp lại ông Ma Duyệt lần nào nữa không ? Dù sao ông ấy cũng là người có công cứu sống bác ».
« Đúng ! Ông ấy có công cứu tôi, nhưng mà tôi cũng đã cứu sống ông ấy. Xem như huề. Nhưng mà xét cho cùng, ông ấy cũng là người có công với cách mạng. Sau năm 1975, ông bán nhà, đem cả gia đình vào khu kinh tế mới Buôn Ma Thuột làm ăn. Ông ấy vào được mấy năm thì mất. Vừa rồi tôi có lên Buôn Ma Thuột thắp cho ông ấy nén hương».
*
Tôi nằm trong khoa Ngoại 10 ngày. Mổ xương chày, đóng đinh xong, tôi phải chuyển sang khoa Răng – Hàm – Mặt để mổ tụ huyết bên má trái. Phải đến nửa tháng sau, tôi mới được xuất viện. Ngồi trên xe lăn, tôi bảo thằng con tôi đẩy đến khoa Ngoại chào ông Mười Hương một tiếng. Những người nhập viện mới vào chật ních, cứ hai người một giường. Hỏi thì người ta nói không biết ông nào là Mười Hương. Họ nói có lẽ ông là con thứ mười. Ông đã ra viện trước rồi. Tiếc quá ! Đến bây giờ vẫn không biết tên thật của ông. Điện thoại cũng không, không một dòng địa chỉ. Tôi chỉ nhớ mang máng điều ông ấy nói với tôi, trong những năm Ngô Đình Cẩn trở thành « Cố vấn miền Trung ». Cẩn đã giết hại, bắt giam hàng ngàn người trên dải đất này. Chỉ riêng ở Thừa Thiên, trong 4 năm (1954 – 1958), có gần 3700 cán bộ đảng viên bị tố giác, bị bắt và bị giết. Đó là một thời máu lửa.
Lần vào Huế tái khám chụp lại phim, kiểm tra xương và vết mổ, tôi đã đến tham quan khu nhà Ngô Đình Cẩn. Tôi đến đặt hương, hoa tại Nhà tưởng niệm và Tượng đài bất khuất Di tích lịch sử Chín Hầm. Tôi gặp người hướng dẫn viên để xác thực lại câu chuyện của ông Mười kể. Anh trao cho tôi cuốn tài liệu viết về khu di tích Chín Hầm và anh dẫn tôi đi giới thiệu từng căn hầm một với những chứng tích tội ác của Ngô Đình Cẩn.
Tôi xin ghi chép lại câu chuyện này nhằm tri ân những con người hy sinh vì dân, vì nước. Họ là những chiến sĩ cách mạng đã bị bạo chúa khát máu Ngô Đình Cẩn thủ tiêu, tra tấn, tù đày. Có những người bị Cẩn chôn sống dưới gốc cây rừng đến nay vẫn chưa tìm được xác.
Một nén tâm nhang thắp cho người đã khuất.
( Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, tháng 5 năm 2014. Viết xong tại Quảng Bình đêm 20 tháng 7 năm 2014).

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *