Đại tướng của lòng dân

Đại tướng của lòng dân

Trong lịch sử nhân loại, hiếm có vị tướng nào giành được tình cảm của dân tộc mình, nhân dân mình như Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong mười tướng soái được cả thế giới ngưỡng mộ, và là một trong sáu vị tướng kiệt xuất nhất được Hội Hoàng gia Anh bỏ phiếu bầu chọn 100%. Trong lòng mỗi người dân Việt Nam, ông đã thành tượng đài, được nhân dân cả nước và loài người yêu chuộng hoà bình công lý kính trọng. Thế giới ca ngợi ông là “vị tướng huyền thoại”, “vị tướng vĩ đại nhất mọi thời đại”.
Sinh năm 1911, trong một gia đình nhà nho yêu nước, dòng dõi khoa bảng ở làng An Xá, Lộc Thuỷ, Lệ Thuỷ, Quảng Bình. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được cha cho đi học chữ ở trường làng rất sớm. Năm 1924, mới 13 tuổi đầu ông đã vào học trường Quốc học Huế. Năm 18 tuổi (1929), ông tham gia cải tổ Tân Việt Cách mạng Đảng thành Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn. Ông tham gia biểu tình, viết bài cho nhiều tờ báo công khai chống Pháp. Năm 1937, ông đỗ xuất sắc bằng cử nhân Luật, Kinh tế chính trị học và dạy môn Lịch sử ở trường tư thục Thăng Long.
Ngày 22/12/1944, ông được Bác Hồ giao cho nhiệm vụ thành lập đội “Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”. Với 34 chiến sĩ, khí giới thô sơ, đội “Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” đã đánh thắng hai trận Phai Khắt và Nà Ngần mở đầu cho truyền thống bách chiến bách thắng của quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 3 năm 1945, ông kéo “Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” về hội quân với “Cứu quốc quân” của Chu Văn Tấn ở vùng chợ Chu, thống nhất hai lực lượng lại thành “Việt Nam giải phóng quân”.
Tháng 8 năm 1945, ông được giao trọng trách chỉ huy “Việt Nam giải phóng quân”, cùng toàn dân khởi nghĩa làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám long trời lở đất.
Giặc Pháp quay lại xâm chiếm đất nước ta một lần nữa. Ông đã được Đảng và Bác Hồ giao cho Tổng chỉ huy quân đội mở chiến dịch Việt Bắc – Thu Đông năm 1947, đánh bại đội quân viễn chinh xâm lược nhà nghề của thực dân Pháp, bảo vệ an toàn căn cứ địa Cách mạng.
Ngày 20/1/1948, Trung ương Đảng và Chính phủ đã phong quân hàm Đại tướng cho ông (Sắc lệnh số 110). Một nhà báo nước ngoài đã hỏi Hồ Chủ Tịch dựa vào tiêu chí nào để phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp. Bác trả lời: “Đánh thắng Đại tá phong Đại tá, đánh thắng Thiếu tướng phong Thiếu tướng, thắng Trung tướng phong Trung tướng, thắng Đại tướng phong Đại tướng”. Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh hiện đại, một thầy giáo dạy sử không qua một trường võ bị nào đã chỉ huy một đội quân nông dân đánh bại cuộc tấn công ồ ạt của địch do một Đại tướng sừng sỏ (Valuy) chỉ huy.
Trong chiến dịch biên giới năm 1950, bằng chiến thuật “Đánh điểm diệt viện” một nghệ thuật quân sự của cha ông để lại, ta đã tiêu diệt hoàn toàn hai binh đoàn Lê Dương giải phóng đường số 4, buộc quân Pháp phải kéo lên Đông Khê. Với phương châm “sức dùng một nửa, công được gấp đôi” mặt trận Cao Bằng, Lạng Sơn ta không đánh mà giặc phải rút chạy. Ông là nhà thao lược đại tài làm phá sản ba kế hoạch chiến lược đầy tham vọng của ba Đại tướng Pháp.
Năm 1953, chính phủ Pháp đưa Hen ri Na varre sang thay thế De Lattre thực hiện “kế hoạch Na varre”, xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thành một “pháo đài bất khả chiến bại”. Khi thấy lực lượng và phương tiện chiến tranh của địch ở Điện Biên Phủ mạnh hơn, hệ thống phòng thủ của chúng được củng cố vững chắc hơn ông đã chuyển từ phương án “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Ông chỉ thị: “Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết, và kéo pháo ra”. Một quyết định sáng suốt, rất con người của vị tướng nhân dân. Quyết định lịch sử để thắng trận một cách tối ưu, giảm thiểu được sự hy sinh xương máu của người lính.
Qua 55 ngày đêm “khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt”. Với phương châm “đổ mồ hôi để bớt đổ máu”, bộ đội ta tiến lên giành giật từng quả đồi, từng thước đất với địch làm nên một “chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu”.
Kết thúc chín năm kháng chiến trường kỳ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy quân đội ta đánh bại 7 tên tướng nhà nghề của thực dân Pháp cùng đội quân tinh nhuệ, thiện chiến nhất của họ, buộc chính phủ Pháp phải kí hiệp định đình chiến ở Genève công nhận nền độc lập của ba nước Đông Dương.
Hoà bình lập lại trên miền Bắc, ông tiếp tục làm Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam. Ông đã chỉ huy toàn quân và dân ta ở hai miền Nam, Bắc tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, đánh bại 5 loại hình chiến tranh của đế quốc Mỹ, một kẻ thù hung bạo nhất trên hành tinh. Ông đã đúc kết nghệ thuật quân sự của cha ông ta kết hợp giữa vũ khí thô sơ với khí tài hiện đại, chiến tranh du kích với hợp đồng tác chiến nhiều quân, binh chủng. Tiêu biểu nhất là chiến dịch đường 9 Nam Lào và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông sử dụng nghệ thuật nghi binh rất tài tình.
Ngay từ những năm 1966, 1967, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phán đoán địch có thể mở cuộc hành quân càn quét quy mô lớn vào đường mòn Hồ Chí Minh. Ông cho tổ chức hàng loạt hoạt động nghi binh công phu đạt tới nghệ thuật tầm cao, bởi vậy phía Mĩ và quân đội Việt Nam Cộng Hoà tin rằng sau Mậu Thân lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam đóng dọc Đường 9 mỏng đi rất nhiều. Ông cho các cánh quân cùng các lực lượng khác tập luyện trước ở Quảng Bình cả năm trời, đồng thời điều sư đoàn 2 của tướng Nguyễn Chơn đang hoạt động ở mặt trận Nam Trung bộ ra phía Bắc đường 9.
Biết tin đối phương tổ chức cuộc hành quân Lam Sơn 719, Đại tướng nhận xét ngay: “Chọn thời điểm như vậy mà tấn công là dốt nặng. Họ không hiểu gì về địa hình và thời tiết cả. Tháng 2 âm, phía Tây Trường Sơn rất nhiều sương mù và bắt buộc trực thăng khi đổ quân phải rà rất thấp. Trận này ta nhất định thắng to”. Ông yêu cầu mang toàn bộ súng đại liên 12,7 li đang cất giữ theo đường mòn Hồ Chí Minh (chờ cơ hội chuyển vào Nam) phát rộng rãi cho mọi bộ phận chiến đấu.
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên kể lại: Bộ Tư lệnh Trường Sơn yêu cầu các đơn vị nhử địch vào thật sâu để tiến công vào các đội hình trực thăng. Khẩu hiệu được đưa ra: “Cứ cho nó đến, quyết không cho về”. Trong ba ngày đầu, trực thăng địch bay đầy trời khu vực Sê Pôn, Bản Đông để đổ quân, Bộ Tư lệnh vẫn kiên quyết không cho các loại pháo phòng không khai hoả mà chỉ dùng súng máy để khiến đối phương chủ quan. Ngày thứ tư thấy mẻ vó đã nặng tay các cổ pháo phòng không mới lên tiếng. Quân lính Mĩ và nguỵ Sài Gòn đã bị đánh tả tơi vứt cả xe pháo luồn rừng chạy về không dám ngoái đầu trở lại.
Khi thế lực của ta và địch đã thay đổi, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề nghị tiến hành cuộc tấn công tổng lực, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Phiên họp lịch sử 18/3/1975, tướng Giáp đã có quyết định chiến lược lớn cuối cùng trong sự nghiệp quân sự chói sáng của ông khi ra lệnh tổ chức cuộc tổng tấn công trên toàn chiến trường. Đại tướng đã đề ra một phương án tác chiến độc đáo: Căng địch ra hai tuyến đầu để đánh. Phía Bắc giữ chặt địch ở mặt trận Huế – Đà Nẵng. Phía Nam giữ địch ở Sài Gòn. Từ lâu ông đã chú ý đến Buôn Ma Thuột, điểm yếu nhất trong kế hoạch phòng thủ “nặng hai đầu” của Việt Nam Cộng Hoà. Ông đã điểm vào huyệt đạo giữa sống lưng địch điều mà đối phương không thể nào ngờ tới. Nắm được Buôn Ma Thuột cho phép quân ta lựa chọn bất cứ mục tiêu nào để tiến công tiếp theo. Nguyễn Văn Thiệu phán đoán không ra nên điều binh khiển tướng lung tung. Ông luôn bám sát chiến dịch để có những quyết định sáng suốt kịp thời. Trong hồi kí “Tổng hành dinh trong Mùa xuân đại thắng” ông có ghi lại cuộc tranh luận gay gắt với Trung tướng Lê Trọng Tấn, Tư lệnh chiến dịch Quảng Nam – Đà Nẵng. Thấy quân địch đã rối loạn ông yêu cầu Tướng Tấn phải giải phóng Đà Nẵng trong vòng 3 ngày. Tướng Tấn giữ ý kiến phải đánh trong 5 ngày vì chuẩn bị không kịp. Ông nói gay gắt: “Tư lệnh mặt trận là anh nên tôi để anh ra lệnh. Nếu là người khác thì tôi ra lệnh: Đánh Đà Nẵng theo phương án chuẩn bị ba ngày. Nếu chuẩn bị năm ngày, địch rút mất cả thì sao?”. Thực tế hoàn toàn trùng khớp với nhận định của Tướng Giáp, chỉ trong 3 ngày quân ta đã đánh tan 10 vạn quân địch, giải phóng Đà Nẵng.
Đánh Buôn Ma Thuột, đột phá khẩu mặt trận Tây Nguyên, quân ta tràn xuống đồng bằng, giải phóng vùng duyên hải miền Trung, thừa thắng xốc tới, năm cánh quân ào ạt tiến về Sài Gòn. “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!”. Bức điện lịch sử gửi các đơn vị ngày 7 tháng 4 năm 1975 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp như tiếng kèn xung trận, như hiệu lệnh thôi thúc toàn quân xốc tới giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Hai chiến dịch lớn, hai thời cơ lớn quyết định vận mệnh non sông đất nước Đại tướng đã chọn hai cách đánh khác nhau làm giới quân sự thế giới phải tốn không ít giấy mực để phân tích, bình luận hàng chục năm trời.
Khi đã về hưu sống giữa lòng thủ đô Hà Nội, gặp lại các tướng soái hay con cái của những đối thủ một thời, ông có một thái độ bao dung, tình cảm. De Castri đã tuyên bố rằng trong cuộc đời binh nghiệp của ông ta, ông rất vinh dự được làm đối thủ của Tướng Giáp.
Mắc Na-ma-ra, cựu Bộ trưởng quốc phòng Mĩ, một trong bốn tướng Mĩ thất trận ở Việt Nam vẫn không hiểu vì sao một dân tộc nhỏ bé như Việt Nam lại đánh bại một đội quân hùng mạnh của nước Mĩ. Năm 1995, khi sang thăm Việt Nam ông ta đã xin được gặp Đại tướng một lần để hỏi vì sao Mĩ thua. Đại tướng trả lời vì người Mĩ chưa hiểu hết nền Văn hoá Việt Nam, Mỹ chưa hiểu Lịch sử của dân tộc Việt Nam – bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước.
John Kenendy con trai của tống thống Mĩ John F. Kenendy (đã bị ám sát năm 1963), được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1998 và hỏi: “Bằng cách nào mà nghề nhà giáo của ông lại chuẩn bị cho ông một sự nghiệp của một chỉ huy quân đội tối cao của Việt Nam”. Ông trả lời: “Ở Việt Nam thì giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Nếu hỏi tôi: Ai là vị tướng người Việt giỏi nhất, tôi sẽ nói – Nhân dân Việt Nam!”. Thực hiện tư tưởng của Bác Hồ lấy dân làm gốc, ông đã phát động cuộc chiến tranh nhân dân, mỗi người dân thực sự là một người lính, một pháo đài, tiến công địch mọi lúc, mọi nơi.
Khi trả lời cuộc phỏng vấn của một hãng truyền hình nước ngoài ông đã nói: ông được học với ba người thầy lớn là Lịch sử, Nhân dân và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông là người thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Ngày Đại tướng trở về trong lòng đất Mẹ Quảng Bình yêu thương, ước tính có khoảng năm trăm ngàn người đứng chật hai bên đường từ sân bay Đồng Hới ra đến Vũng Chùa để đưa tiễn.
Sáng 13/ 10/ 2013, khi đứng chờ linh xa của Đại tướng tại Vũng Chùa, tôi đã chứng kiến cuộc phỏng vấn của một kí giả người Việt ở Mĩ với một cô giáo dạy Tiểu học ở Hải Phòng: “Tướng Giáp đã chỉ huy một đội quân đánh bại được người Pháp và người Mĩ. Nhưng có một điều mà ai cũng biết là có rất nhiều người đã chết. Theo cô cái giá của nền độc lập như thế có đắt lắm không?”. Cô giáo trả lời ngay: “Không có gì quý hơn độc lập tự do. Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Sự hy sinh của đồng bào và chiến sĩ cả nước cho nền độc lập tự do của Tổ quốc là vô giá, và dân tộc Việt Nam không bao giờ chịu cúi đầu làm nô lệ”.
Có lẽ hiếm ai có được tình cảm kính trọng vô bờ, lòng tiếc thương vô hạn như Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Họ là những vị thánh trong lòng nhân dân Việt Nam.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *