Nghệ thuật quân sự ngụy trang nghi binh của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên:

Nghệ thuật quân sự ngụy trang nghi binh của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên:
Trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta, có những vị tướng, những anh hùng dân tộc sử dụng nghệ thuật quân sự một cách tài tình. Trong cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ, nhân dân ta, quân đội ta đã có những cách đánh hết sức sáng tạo, độc đáo mà kẻ thù không bao giờ ngờ tới. Một trong những vị tướng đánh lừa được quân địch nhiều lần đó là Tư lệnh chiến trường Trường Sơn- Đồng Sĩ Nguyên.
Đồng Sĩ Nguyên sinh ngày 1 – 3 – 1923 tại làng Trung Thôn, xã Quảng Trung, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Dòng họ hai bên nội ngoại của ông cuối thế kỉ XIX là những chiến binh Cần Vương yêu nước.
Thuở nhỏ ông có tên là Nguyễn Hữu Vũ. Nhà ở sát chợ Sải bên bờ Rào Nậy (sông Gianh) nên cậu bé Vũ hàng ngày cùng bạn bè xuống sông tắm và chơi trò đánh trận giả. Cậu thường lặn sâu xuống rồi vòng ra phía sau lưng đánh tập hậu đối phương.
Đến với cách mạng năm 12 tuổi, bài học vỡ lòng đầu tiên mà Nguyễn Hữu Vũ được anh Tế (Bí danh của đồng chí Nguyễn Văn Huyên) giao cho là vận động bầu cử người của Đảng vào nghị viện dân biểu Trung Kỳ, một tổ chức hợp pháp để hoạt động cách mạng.
Năm 1937, Nguyễn Hữu Vũ chính thức tham gia cách mạng với bí danh là Nguyễn Văn Đồng. Cùng với các hội biến tướng của “Nông hội đỏ” như Hội cấy, Hội cày, Hội lợp nhà, Hội đưa tang… thì các hội của lớp trẻ cũng được thành lập.
Nguyễn Văn Đồng được cử phụ trách Hội Thanh- Thiếu niên cứu quốc, Hội đá bóng. Ông trở thành một trong những tiền đạo xuất sắc và là “linh hồn” của đội bóng làng Trung Thôn. Ông rất có duyên làm bàn và sút phạt. Những quả sút phạt của ông đã đánh lừa được thủ môn đội bạn. Ông rất ham thích bóng đá, ông nói với tôi: “Chính nhờ những trận đấu bóng mà bác đã tập hợp được nhiều thanh niên vùng Nam Quảng Trạch đi theo cách mạng”.
Cha tôi kể, hồi đó ông học với bác tôi ở lớp trên (Trường Tiểu học Thọ Linh, xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch) nhưng ông giao lưu rất rộng, ông thường xuyên gặp gỡ học sinh lớp dưới. Những học sinh cùng khối với cha tôi đã được ông giác ngộ, tuyên truyền cách mạng. Ông đã tập cho cha tôi và bạn bè cùng khối, lớp với ông, diễn các vở kịch đả kích những quan Tây, chống lại chế độ sưu thuế hà khắc của thực dân phong kiến.
Mười lăm tuổi, (năm 1938) ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Mười bảy tuổi, ông được cử làm Bí thư chi bộ Trung Thôn (mật danh là chi bộ Bình) và vào Đồng Hới học năm thứ nhất bậc thành chung (trường Saint Marie). Năm 1941, tròn 18 tuổi ông được phân công làm Bí thư chi bộ tại trường.
Những tháng hè năm đó ông đi tập huấn xây dựng cơ sở bí mật tại Huế. Với áo the, khăn đóng và chiếc ô, ông cùng đồng chí Thường – phái viên Xứ uỷ Trung Kỳ cải trang làm hai thầy trò để che mắt địch. Mùa hè năm 1942, ông lại cùng đồng chí Vũ Văn Giáo đến vùng Troóc (Pheo) ở biên giới Việt – Lào (Bố Trạch, Quảng Bình) dạy học, tránh sự truy nã của địch và xây dựng căn cứ địa cách mạng. Lớp học tổ chức tại nhà thờ. Linh mục rất nhiệt tình vận động con em giáo dân đến lớp.
Ông là một người thầy giáo thực thụ của lớp học trên năm chục học sinh. Ông không những dạy chữ, mà còn dạy cho các em truyền thống kiên cường bất khuất của dân tộc Việt Nam, thổi vào tâm hồn các em lòng tự hào dân tộc. Ông đã chiếm được cảm tình của bà con xứ đạo và ai cũng hết lòng hết sức ủng hộ cách mạng.
Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được cử làm Chủ tịch Việt Minh của tỉnh rồi làm Bí thư Huyện uỷ kiêm Trưởng ban Quân sự huyện Quảng Trạch. Ngày 15 – 4 – 1947, giặc Pháp đánh chiếm thị trấn Ba Đồn. Ông đã cùng đồng chí Trương Sô, cán bộ đại đội 5 và đồng chí Các, Phó ban Quân sự huyện nghiên cứu thực địa các thôn để bảo vệ chiến khu Trung Thuần.
Ông quyết định chọn Chợ Cổng, nơi có 3 đường mòn giao nhau vào chiến khu để bố trí trận địa phục kích. Cả đại đội chỉ được một quả mìn, ông cho đặt nơi “ngon ăn” nhất. Ngày 26 – 5 – 1947, hai trung đội quân Pháp hùng hổ tiến lên Trung Thuần. Ta bố trí trận địa nghi binh, bọn địch mắc lừa, tập trung lực lượng đuổi theo du kích.
Với vũ khí thô sơ, mã tấu, mác Lào, súng trường, lựu đạn, ta đã nhử địch lọt vào thế trận bày sẵn. Bộ đội từ dưới công sự vọt lên đánh tập hậu phía sau, làm chúng rối loạn đội hình, đạp bừa lên nhau mà chạy. Mìn nổ, 2 tên chết ngay tại trận, nhiều tên khác bị thương. Mũi vu hồi, vòng lại đánh sau lưng. Với “chiêu đánh trận giả” thời con nít, ông đã cho quân xâm lược súng đạn đầy mình, có pháo binh yểm trợ nếm mùi thất bại.
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cả dân tộc lên đường ra trận. Quân khu Bốn, dải đất nhỏ hẹp của miền Trung trở thành chiếc đòn gánh, gánh hai đầu đất nước. Nơi cam go nhất của cuộc chiến, Đồng Sĩ Nguyên có mặt để trở thành Chính uỷ, trở thành Tư lệnh chiến trường.
Giặc Mỹ hung hăng “tìm diệt” săn lùng trận địa phòng không của ta, ông cho đốn những cây phi lao sơn đen làm thành những khẩu pháo giả, ngụy trang thật cẩn thận những trận địa nghi binh tha hồ cho chúng thả bom đào bới.
Khi những con thiêu thân hí hửng say mồi nhất, ông cho quất thẳng vào đội hình của chúng. Trận đánh ngày 26 – 3 – 1965 tại rú Nài – Hà Tĩnh đã vít cổ hai “Thần sấm” F4 ngay loạt đạn đầu. Những chiến lược gia của cỗ máy chiến tranh xâm lược Mỹ không thắng nổi cái mẹo vặt của ông từ thuở còn là cậu bé mười hai, mười ba tuổi trên bến sông Chợ Sãi.
Đầu tháng 7 – 1966, được bố trí làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần tiền phương, ông chọn ngay Hương Đô, Hương Khê, Hà Tĩnh làm sở chỉ huy. Hương Đô nằm giữa ba trọng điểm đánh phá của địch, cách trọng điểm Khe Ác không đầy hai cây số.
Ông chủ động giành yếu tố bất ngờ, gần đường vận tải, thuận tiện liên lạc và được Đảng bộ, chính quyền nhân dân địa phương tận tình giúp đỡ. Ông đề xuất với các binh trạm nắm chắc quy luật đánh phá của địch, phá thế độc đạo bằng cách làm thêm nhiều đường “xương cá” toả ra các hướng chiến trường.
Những đoạn đường cũ bị địch đánh phá ông cho sửa lại để vừa sử dụng, vừa làm nghi binh “hút” địch về đó. Đã có những mỏ đá lộ thiên ông “bắt” địch đào cho ta “đá hoá” mặt đường. Nhờ thế, đường 20 – Quyết thắng dài trên 120 cây số vượt biên giới Việt – Lào nối hành lang Đông – Tây Trường Sơn hoàn thành với thời gian ngắn nhất.
Ông và ông Lại Văn Ly, người em họ, người bạn chí cốt từ thời chống Pháp đang làm Giám đốc Ty Giao thông Quảng Bình đi nghiên cứu tình hình địch đánh phá bến phà Long Đại. Họ vào căn hầm Chữ A phía bờ Nam để xem quy luật đánh phá của chúng.
Thấy chúng tập trung oanh tạc bến phà từ đầu hôm đến 4 giờ sáng, ông nói với ông Lại Văn Ly: “Như thế là rõ rồi! Miếng mồi mà chúng thèm ăn là có thật. Nó thích ăn thì ta sẵn sàng cho”.
Ông bàn với ông Ly mở thêm vài ba bến nữa. Sử dụng những đầu kéo có công suất lớn để khi pháo sáng tắt là “thần tốc” cho phà đưa xe qua sông. Sửa sang lại bến cũ cho nguỵ trang sơ sài đặt vài hình nộm người và vài xe ô tô kéo đi kéo lại giữa sông để nhử địch. Bọn địch mắc mưu tập trung vãi bom đạn xuống những chiếc phà hỏng, làm mồi cho các đơn vị phòng không đang phục sẵn đón đợi chúng bên bờ Long Đại.
Kinh nghiệm một lần từ nước ngoài về nhìn xuống sân bay Gia Lâm không thấy đường băng, ông cho bộ đội vận tải tận dụng những ngày mưa, trần mây thấp tăng xe, tăng chuyến. Xe chạy trong những lớp sương mù dày đặc, máy bay địch khó phát hiện được, mà có nhìn thấy chưa chắc đã đánh trúng bởi các tia khúc xạ đẩy hình ảnh mục tiêu sang vị trí khác.
Với hệ thống đường dọc, đường ngang, đường kín, đường hở, đường xuyên Trường Sơn thực sự là một “trận đồ bát quái” với không quân địch. Mỹ đã đổ vào chiến trường Trường Sơn các phương tiện chiến tranh hiện đại nhất, nhưng không ngăn được sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến lớn anh hùng.
Các chiến lược gia quân sự Mỹ sau Mac Namara muốn hoàn thành đề án của người tiền nhiệm bằng cuộc hành quân “Lam Sơn 719” hòng thiết lập một hệ thống đồn bốt đánh chặn nhưng bị thất bại nặng nề. Một lực lượng khổng lồ được đối phương tung vào canh bạc cuối cùng của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” gồm hơn 40 nghìn quân nguỵ Sài Gòn, trên 6 nghìn quân Mỹ với lực lượng không quân, pháo binh, tăng- thiết giáp yểm trợ. Được sự chỉ đạo của Bộ Tổng tư lệnh và Quân uỷ Trung ương, Bộ Tư lệnh tiền phương đã có kế hoạch ém quân trong rừng già đợi địch.
Rừng Trường Sơn những ngày đầu năm 1971 im lặng thật đáng sợ. Các bãi trống tự nhiên trên các điểm cao đường 9 mà trực thăng địch có thể hạ cánh được, quân giải phóng đã bố trí một lực lượng phòng không, bộ binh dày đặc. Bọn địch chậm chạp bò theo đường 9 về phía tây. Khi trực thăng chúng đổ quân xuống các cao điểm tử địa thì hai sư đoàn bộ binh đội đất trồi lên.
Năm trung đoàn cao xạ, một trung đoàn tên lửa, 26 đại đội súng máy phòng không 12,7 mm giăng lưới lửa chặn đầu, khoá đuôi bao vây bắt sống, không cho chúng thoát. Với chiến thuật đánh gần, quân giải phóng đã vô hiệu hoá khả năng yểm trợ của B52. Gần hai tháng chiến dịch, bọn địch như lạc vào giữa mê cung, bị diệt và bắt sống hơn một nửa số quân tham chiến. Số còn lại vứt xe pháo, luồn rừng, chạy tả tơi.
Suốt 16 năm bám trụ kiên cường, mưu trí, sáng tạo, kết hợp giữa vũ khí thô sơ với khí tài hiện đại, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân với những binh đoàn chủ lực, Đồng Sĩ Nguyên là một vị tướng tài ba. Ông đã kết hợp tài tình tinh hoa quân sự cổ truyền dân tộc với kiến thức chỉ huy binh chủng hợp thành. Ông đã đúc rút kinh nghiệm, chiến thuật quân sự phổ biến cho từng binh chủng, từng đơn vị chiến đấu, bảo vệ và xây dựng tuyến đường.
Với 17.600km đường ô tô, 2.000km đường giao liên bộ, hệ thống đường Hồ Chí Minh đã làm phá sản mọi loại hình đánh phá ngăn chặn của đế quốc Mỹ. Mùa xuân 1975, bộ đội vận tải đã sử dụng các sư đoàn vận tải cơ giới, thực hiện tốt chức năng cơ giới hóa bộ binh. Với đại lộ, đại pháo, đại xa, các binh đoàn chủ lực cơ động đã thực hiện được tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương: Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, tiến công như vũ bão quét sạch quân thù, đưa giang sơn thu về một mối.
“Lịch sử đường Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo khoa học và nghệ thuật quân sự của bộ đội Trường Sơn; là một trong những yếu tố chiến lược có ý nghĩa quyết định, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi cuối cùng” (Lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp). Lịch sử Quân đội ta ghi công ông, vị Tư lệnh chiến trường Trường Sơn, một vị tướng đã sử dụng nghệ thuật quân sự nguỵ trang, nghi binh rất tài giỏi, đã giáng những cú đấm sấm sét đầy uy lực vào mặt đội quân xâm lược mạnh nhất hành tinh trong thế kỷ hai mươi.
Đất nước thanh bình. Tám mươi bảy tuổi, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên vẫn không hề ngơi nghỉ, ông vẫn đau đáu, lo toan cho cuộc sống đồng bào dân tộc trên dải Trường Sơn còn khổ cực, thiếu thốn. Ông đã có nhiều ý kiến đóng góp cho Đảng và Nhà nước, đề nghị mở rộng chương trình xoá đói giảm nghèo thành chương trình làm giàu cho bà con miền núi. Ngày nay, đường Hồ Chí Minh đã trải rộng, vươn dài đến mọi miền đất nước, đang rút ngắn khoảng cách giữa miền ngược với miền xuôi. Muôn đời sau con cháu chúng ta khi nhắc đến con đường Trường Sơn, sẽ nhắc mãi tên ông- Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên với nghệ thuật quân sự tài tình, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân 1975 lịch sử.
(Bài viết từ năm 2010 đăng trên báo Quảng Trị)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *